Curiosity là con tàu thăm dò đã đổ bộ thành công lên sao Hoả và bắt đầu khám phá địa chất của hành tinh đỏ. Trước đó, Curiosity đã gửi về trái đất những hình chụp đầu tiên về sao Hoả cũng như đoạn video quay lại quá trình đổ bộ của nó từ 17 máy ảnh gắn xung quanh thân tàu. Tuy nhiên, Curiosity vẫn còn một số bí ẩn mà NASA chưa tiết lộ cho chúng ta biết về nó cũng như nhiệm vụ thăm dò sao Hoả lần này. Bài viết sẽ liệt kê 9 bí ẩn đối với tàu Curiosity cũng như thiết bị hỗ trợ đổ bộ (descent stage) mà có thể bạn chưa biết. 1. Pháo hoa được sử dụng Trong quá trình hạ cánh xuống bề mặt sao Hoả của con tàu thăm dò Curiosity, pháo hoa (pyrotechnic) đã được các kỹ sư của NASA sử dụng cho một số mục đích. Có tổng cộng 76 cú bắn pháo hoa đã được triển khai kể từ khi con tàu Curiosity đi vào tầng khí quyển cũng như tiếp đất trên sao Hoả. Một số lần nổ pháo có sức công phá chỉ bằng một hộp diêm nhưng một số khác có sức công phá bằng lượng thuốc nổ TNT nhỏ. Trước khi Curiosity đi vào vùng khí quyển của sao Hoả, nó bắn tổng cộng 10 đợt pháo hoa trong vòng 5 mili giây để cắt cáp nối cũng như để tách con tàu với thiết bị đổ bộ. Lần nổ pháo lớn nhất được thực hiện để mở dù cho con tàu ngay trước khi tiếp đất. Sau khi đã đổ bộ thành công xuống bề mặt, pháo hoa nhỏ vẫn được sử dụng để bóc tách một số thiết bị bảo vệ, ví dụ lớp bảo vệ trong suốt của 17 máy ảnh trên thân tàu Curiosity. 2. Thân nguyên khối Apple rất thành công với triết lý thiết kế nguyên khối (unibody) trên những sản phẩm của mình và NASA cũng đã vận dụng triết lý này cho thân của tàu Curiosity. Cỗ máy hỗ trợ đổ bộ (descent stage) cho tàu Curiosity được làm từ ba panel lớn, nơi chứa rất nhiều bộ phận bao gồm bình nhiên liệu, dây cáp, dây viễn thông, hộp điện tử... Thay vì gắn kết từng bộ phận lại, các kỹ sư đã lắp ráp những panel này từ một khối nhôm cứng để tránh tối đa hiện tượng nứt vỡ cho thiết bị. Các kỹ sư từ trung tâm thiết kế phải mất 11 tháng để hoàn thành thiết kế, lắp ráp cho thiết bị hỗ trợ đổ bộ. Đầu tư thời gian lâu dài và kết quả là nó hoạt động hiệu quả, kết cấu vững chắc và giúp Curiosity đổ bộ thành công. 3. Ống dẫn nhiên liệu Hydrazine Khi Curiosity tiến sát bề mặt sao Hoả, thiết bị hỗ trợ đổ bộ đã kích hoạt những rocket sử dụng nhiên liệu hydrazine như là công cụ giúp nó đứng trên không và dần thả Curiosity xuống mặt đất. Những ống dẫn nhiên liệu to và dày đã được sử dụng để cung cấp hydrazine một cách hiệu quả nhất. Ngoài ra, nó còn đảm nhiệm vai trò làm khung kết cấu cho thiết bị đổ bộ. Để tránh những ống dẫn nhiên liệu có thể bị bẻ gãy hoặc vỡ trong quá trình đổ bộ, những vòng đai đã được đưa vào những ống dẫn nhiên liệu và giúp nó chịu tải tốt hơn. 4. Bánh xe Tàu thăm dò Curiosity có tất cả 6 bánh với kích thước 20”. Mỗi bánh xe được cung cấp động năng từ một mô-tơ và nó có thể hoạt động độc lập như tự xoay để đào một rãnh nông trên mặt đất, phục vụ nghiên cứu. Những bánh xe màu đen to bản của Curiosity làm chúng ta nghĩ rằng nó cấu tạo từ cao su thông thường nhưng không phải như vậy, hợp kim nhôm được sử dụng cùng với nan hoa titanium đóng vai trò hấp thụ xung lực. 5. Mã Morse Ẩn chứa trên bề mặt mỗi bánh xe của tàu Curiosity là những vạch kẻ được sắp xếp để tượng trưng cho ba ký tự J, P, L viết theo mã Morse. Khi con tàu di chuyển trên bề mặt sao Hoả, nó sẽ để lại dấu vết về ba chữ cái JPL, viết tắt cho phòng thí nghiệm đã nghiên cứu và chế tạo ra con tàu (JPL - Jet Propulsion Laboratory). Đây là một việc làm quan trọng vì nó sẽ giúp các nhà khoa học đếm được quãng đường tàu đã di chuyển. 6. Mã AR Không chỉ mã Morse được sử dụng để cung cấp thông tin, các kỹ sư của NASA còn sử dụng mã AR (augmented-reality) để cung cấp thông tin đặc biệt về nhiệm vụ thăm dò của con tàu. Chính NASA cũng chưa cho biết một cách chi tiết về tác dụng của những mã AR này. 7. Miếng đánh dấu Thiết bị nhận biết chuyển động đã được NASA dùng để tính toán số lần di chuyển của những bộ phận trên con tàu Curiosity nhưng để chắc chắn hơn nữa, những miếng đánh dấu màu đen trắng đã được gắn lên nhiều bộ phận chuyển động của Curiosity. Những miếng đánh dấu (fiduciary marker) này sẽ giúp các kỹ sư NASA biết được những bộ phận chuyển động (ví dụ cánh tay) đã di chuyển theo chiều kim đồng hồ hay ngược chiều, từ đó có thể phác thảo dữ liệu 3D về sự hoạt động của tàu. 8. Tên gọi Phía sau lưng của con tàu nơi đặt ăng-ten UHF, có chứa dữ liệu về những tên gọi. Trong quá trình phát triển tàu Curiosity, NASA đã thu thập gần 1,24 triệu cái tên từ người dùng trên mạng và hơn 20 ngàn cái tên khác từ khách thăm phòng thí nghiệm JPL cũng như trung tâm hàng không Kennedy. Những cái tên này được khắc lên một con chip silicon và gắn vào con tàu. Theo lý giải của NASA, những cái tên này "mang theo hy vọng và cảm hứng của con người ở Trái Đất tới sao Hoả". 9. Đồng hồ mặt trời Cũng giống như một số con tàu thăm dò trước đây, Curiosity cũng được gắn một đồng hồ mặt trời ở trên thân tàu. Chiếc đồng hồ này được trang trí với từ ‘sao Hoả’ được viết với 16 ngôn ngữ khác nhau. Bên cạnh chức năng xem giờ, đồng hồ mặt trời này còn có nhiệm vụ cân chỉnh màu sắc cho chiếc máy ảnh MastCams chụp ảnh 3D độ phân giải cao. Bụi trong không khí trên sao Hoả làm những bức ảnh chụp ngả sang tông màu đỏ nhiều hơn, vì thế máy ảnh cần biết được màu sắc thực sự và những dải màu xanh, vàng, đỏ trên đồng hồ mặt trời sẽ giúp nó làm điều đó. Ngoài ra, trên chiếc đồng hồ này còn khắc dòng chữ ‘To Mars, To Explore’ (tạm dịch: tới sao Hoả để khám phá). Nguồn: Wired
Em xin tình nguyện lên đấy sống! Có tên em trong chuyến đổ bộ này, các bác có thể tìm tên mình tại đây: http://www.nasa.gov/mission_pages/mars/news/mars20120820a2.html
hy vọng trong lúc mình còn sống thì khoa học kịp phát minh ra phương tiện du hành vũ trụ cho người đi xa hơn
Không có anh Mỹ lo mấy việc thám hiểm không gian thì chưa nước nào đủ tiềm lực và khả năng làm việc này (kể cả Nga). Khâm phục những con người trên toàn thế giới đang làm việc cho NASA. Ngẫm lại nước mình sao buồn thế....... mưa lo ngập, nắng lo tắc đường